Đó là nội dung được nhiều chuyên gia thảo luận tại hội thảo “Thư viện số dùng chung – Từ mô hình đến giải pháp triển khai”, diễn ra vào sáng 8/10 tại Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh.
Chương trình nhằm giới thiệu mô hình thư viện số dùng chung, đồng thời ra mắt thư viện số của Trung tâm Thông tin, Thư viện nhà trường, hướng tới phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và tiếp cận tri thức trên môi trường số.

PGS.TS Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh, phát biểu tại chương trình.
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh, cho rằng chuyển đổi số thư viện không chỉ dừng ở việc số hóa tài liệu hoặc đầu tư phần mềm mà quá trình này còn đòi hỏi các thư viện đổi mới cách tổ chức, quản lý và quản trị nguồn lực thông tin.
PGS.TS Lâm Nhân cho rằng mô hình thư viện dùng chung cần tăng khả năng chia sẻ hạ tầng và kết nối nguồn lực, nhưng mỗi thư viện vẫn phải giữ tính tự chủ và những đặc trưng riêng. Khi các đơn vị cùng tham gia một nền tảng, mỗi thư viện có thể duy trì không gian dữ liệu, nguồn tài nguyên và quyền quản trị phù hợp với hoạt động của mình.

Lễ ra mắt Không gian tri thức số ViLIB – Thư viện số dùng chung.
Dịp này, Trung tâm Thông tin, Thư viện Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh đã ra mắt thư viện số trên nền tảng ViLIB. Việc triển khai thư viện số tại trung tâm tạo điều kiện để mô hình thư viện dùng chung đi vào hoạt động thực tế trong một cơ sở giáo dục đại học.
ViLIB xây dựng mô hình thư viện số dùng chung theo nguyên tắc chia sẻ hạ tầng nhưng không đồng nhất các thư viện. Mỗi thư viện, trường học hoặc cơ sở đào tạo vẫn có không gian riêng, người dùng riêng, nguồn tài nguyên nội sinh và quyền quản trị phù hợp. Nền tảng dùng chung tập trung vào hạ tầng công nghệ, công cụ quản trị, khả năng kết nối, chuẩn hóa dữ liệu và những nguồn tài nguyên đủ điều kiện chia sẻ. Mô hình không nhằm tạo thêm một kho sách điện tử mà hướng tới việc tạo cơ chế để những nguồn lực tri thức đang phân tán có thể kết nối, chia sẻ và khai thác hợp pháp, có kiểm soát. Cách làm này có thể giúp các đơn vị hạn chế đầu tư trùng lặp, sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực hiện có và mở rộng khả năng tiếp cận tri thức của cộng đồng.
Mô hình có thể mở rộng tới nhiều nhóm đối tượng, gồm thư viện phường, xã; trường tiểu học, THCS, THPT; cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cao đẳng, đại học; nhà xuất bản, đơn vị cung cấp nội dung; tác giả, chủ sở hữu quyền và người sử dụng.
Thực tiễn triển khai thời gian qua cũng chỉ ra một số rào cản và thách thức lớn như lãng phí nguồn lực, hạ tầng kỹ thuật và cơ sở dữ liệu còn khép kín, thiếu sự kết nối và chia sẻ rộng rãi ngay trong từng hệ thống. Đặc biệt đối với các thư viện cấp phường/xã, các trường phổ thông hay cơ sở giáo dục vừa và nhỏ, việc tự đầu tư một hệ thống thư viện số hoàn chỉnh, hiện đại là thách thức vượt quá khả năng tài chính và nhân lực. Bên cạnh đó, còn là bài toán bản quyền và nội dung số. Mối quan hệ giữa xuất bản và thư viện trong không gian số vẫn chưa tìm được sự cân bằng tối ưu giữa bảo vệ bản quyền tác giả và cung cấp khả năng tiếp cận tri thức rộng rãi cho cộng đồng người sử dụng.

Trường Đại học Văn hóa TP.HCM và Công ty Cổ phần Thư viện Số Việt Nam thực hiện lễ ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác
Cũng tại chương trình, Trường Đại học Văn hóa TP.HCM và Công ty Cổ phần Thư viện Số Việt Nam thực hiện lễ ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác
ThS. Nguyễn Hải Gian, Giám đốc Trung tâm Thông tin, Thư viện – Trường Đại học Văn hóa TPHCM cho rằng, thư viện số mang lại rất nhiều lợi ích cho cả người học và người dạy.
Thực tế cho thấy, người học hiện nay không chỉ tiếp nhận kiến thức trong giảng đường. Một phần đáng kể quá trình học tập diễn ra thông qua các nền tảng số, cơ sở dữ liệu trực tuyến, sách điện tử, tạp chí khoa học điện tử, kho học liệu mở và nhiều nguồn thông tin khác. Giảng viên cũng ngày càng sử dụng các tài nguyên số để chuẩn bị bài giảng, thiết kế hoạt động học tập và hướng dẫn sinh viên nghiên cứu. Hoạt động nghiên cứu khoa học phụ thuộc ngày càng nhiều vào khả năng tiếp cận và xử lý nguồn thông tin học thuật số. Trong bối cảnh đó, thư viện số cần được nhìn nhận không đơn thuần là một “kho tài liệu điện tử”. Thư viện số phải trở thành hạ tầng tri thức, hỗ trợ người học, giảng viên và nhà nghiên cứu tiếp cận, đánh giá, khai thác và tạo lập tri thức.
Tại hội thảo, các ý kiến tham luận cho thấy công nghệ chỉ giải quyết một phần yêu cầu của quá trình xây dựng thư viện số dùng chung. Các thư viện còn phải chuẩn hóa dữ liệu, xác định quyền số hóa, quản lý bản quyền và phân định quyền truy cập đối với từng loại tài liệu. Một vấn đề cần đặt ra nữa đối với thư viện số, đó là tài liệu số, quyền sao chép, lưu trữ, cung cấp và chia sẻ cần được xác định rõ. Việc số hóa tài liệu truyền thống phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến quyền tác giả và sở hữu trí tuệ.
Các chuyên gia cho rằng phát triển thư viện số dùng chung không chỉ là giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin mà còn là yêu cầu đổi mới căn bản phương thức tổ chức, quản lý và phát triển các loại hình thư viện. Trong bối cảnh chuyển đổi số, mô hình này góp phần khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, tài nguyên số bị chia cắt và khả năng khai thác giữa các thư viện còn hạn chế; đồng thời tạo điều kiện sử dụng hiệu quả hơn hạ tầng, dữ liệu và các nguồn lực thư viện.
Nguyễn Thanh





